HƯỞNG ỨNG NGÀY THẾ GIỚI PHÒNG CHỐNG ĐÁI THÁO ĐƯỜNG – 14/11/2025

Bệnh đái tháo đường (còn gọi là tiểu đường) là bệnh mạn tính do tuyến tụy không sản xuất đủ insulin hoặc khi cơ thể không thể sử dụng hiệu quả insulin mà nó sản xuất. Đây là căn bệnh mãn tính, tiến triển với nhiều biến chứng nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khoẻ của người bệnh và trở thành gánh nặng thực sự cho phát triển kinh tế, xã hội.
Các biến chứng của bệnh đái tháo đường: Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo, bệnh đái tháo đường là “kẻ giết người” thầm lặng vì diễn biến âm thầm của bệnh làm cho người bệnh dễ nảy sinh tâm lý chủ quan. Khi bệnh chuyển nặng có thể gây nên các biến chứng đe dọa tính mạng, làm suy yếu sức khỏe, giảm chất lượng cuộc sống, giảm tuổi thọ như: có thể dẫn đến mù lòa, suy thận, nhiễm trùng bàn chân, tắc mạch dẫn đến cụt chi; biến chứng các bệnh về tim mạch như tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não…
Nguyên nhân gây bệnh: Bên cạnh yếu tố như di truyền, lão hóa, thì nguyên nhân chính là do lối sống thiếu lành mạnh với các hành vi nguy cơ như dinh dưỡng không hợp lý, thiếu hoạt động thể lực, hút thuốc và lạm dụng rượu bia.
Những ai dễ mắc bệnh đái tháo đường?
Khác với đái tháo đường típ 1 và đái tháo đường thai kỳ hiện nay vẫn chưa rõ nguyên nhân, đái tháo đường típ 2 có những yếu tố nguy cơ:
Yếu tố nguy cơ can thiệp được:
+ Thừa cân béo phì
+ Ít hoạt động thể lực
+ Tăng huyết áp
+ Rối loạn mỡ máu
+ Tiền đái tháo đường
+ Rối loạn đường huyết lúc mang thai
Yếu tố nguy cơ không can thiệp được:
+ Trên 40 tuổi
+ Gia đình từng có người bị đái tháo đường
Bệnh đái tháo đường là do tuyến tụy không sản xuất đủ insulin hoặc các tế bào của cơ thể không đáp ứng với insulin. Có 3 loại đái tháo đường:
- Đái tháo đường típ 1: là tuyến tụy không sản xuất đủ insulin, do vậy trước dây còn gọi là “đái tháo đường phụ thuộc insulin” hoặc “đái tháo đường vị thành niên”.
- Đái tháo đường típ 2: là do sự đề kháng với insulin, các tế bào không đáp ứng với insulin, do đó còn gọi là “đái tháo đường không phụ thuộc insulin”.
- Đái tháo đường thai kỳ: xảy ra khi phụ nữ một phụ nữ chưa hề mặc bệnh đái tháo đường mà trong khi mang thai lại có nồng độ đường trong máu cao.
Các biến chứng bệnh đái tháo đường
Biến chứng mạn tính bao gồm: bệnh tim mạch, đột quỵ, suy thận mạn tính, loét chân, bệnh lý võng mạc.

Phòng ngừa và điều trị đái tháo đường
Việc phòng ngừa và điều trị liên quan chặt chẽ đến chế độ ăn uống và tập luyện.
Ăn uống:
+ Ăn đa dạng các loại thực phẩm, trong đó chú ý nhiều rau quả và trái cây
+ Hạn chế các thực phẩm chế biến sẵn (fast food), thực phẩm nhiều tinh bột
+ Tránh thực phẩm nội tạng động vật, thức uống nhiều đường (nước ngọt)
Tập luyện:
+ Luyện tập thể dục ít nhất 30 phút/ngày trong ít nhất 5 ngày/tuần
+ Kiểm soát cân nặng BMI từ 18-25
Trong đó quan trọng nhất là việc khám tầm soát ít nhất 1 năm/lần đối với người chưa mắc bệnh (6 tháng/lần đối với người có yếu tố nguy cơ) và điều trị thường xuyên đối với người đã mắc bệnh.
Bên cạnh đó, hệ thống y tế cũng cần được củng cố, tiếp tục nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị tại các bệnh viện, đồng thời chú trọng phát triển y tế dự phòng, y tế cơ sở, mạng lưới bác sỹ gia đình để truyền thông vận động cộng đồng thay đổi hành vi, phòng chống yếu tố nguy cơ, cung cấp các dịch vụ dự phòng, tư vấn đầy đủ cho người dân, đồng thời bảo đảm người nguy cơ cao, người mắc bệnh đái tháo đường được phát hiện sớm, quản lý điều trị liên tục và lâu dài tại cộng đồng.
Hưởng ứng Ngày Thế giới phòng chống đái tháo đường – Chúng ta cùng hành động vì một Việt nam khỏe mạnh, không để đái tháo đường trở thành gánh nặng cho tương lai!
Lê Thị Hướng/Khoa YTCC-DD&ATTP




In bài viết

